Nam Tây Nguyên kể chuyện: Tính bảo thủ ngoài biên giới của cồng chiêng Churu

Vùng đất Nam Tây Nguyên của các dân tộc thiểu số bản địa với đại diện là người Mạ còn là địa vực cư trú của một số tộc người thiểu số duyên hải với đại diện là người Churu – nhóm người “ly khai” cộng đồng Chăm để tiến về phía núi. Qua quá trình cộng cư nền văn hóa của hai nhóm dân này đã diễn ra hiện tượng “đóng băng trên biên” tất yếu nhưng đồng thời “tính bảo thủ ngoài biên giới” cũng được thể hiện khá rõ nét. Trong đó văn hóa cồng chiêng là một ví dụ.

Xét về lịch sử “Churu” là một khái niệm của người vùng cao Nam Tây Nguyên dùng để chỉ một bộ phận người Chăm ly khai tiến về phía núi – “Churu” có nghĩa là “chiếm đất”. Cho đến lúc này bộ phận người Chăm “ly khai” nọ đã trở thành một tộc người thiểu số có địa bàn cư trú lân cận và trùng khớp với cộng đồng người Mạ người Cơho Nam Tây Nguyên. Và ở đó các yếu tố về văn hóa đặc biệt là văn hóa cồng chiêng của hai cộng đồng người thuộc hai ngữ hệ Môn Khơme và Mã Lai Đa Đảo đã phát triển theo quy luật của nó và hiện tượng tất yếu diễn ra như trên đã nói là: “tính bảo thủ ngoài biên giới” và hiện tượng “đóng băng trên biên”. 

Trong hồ sơ “Vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” được Hội đồng quốc gia về di sản văn hóa Việt Nam hoàn tất trình lên UNESCO hồi cuối năm 2004 cồng chiêng Churu Nam Tây Nguyên là một bộ phận cấu thành (cùng với cồng chiêng Mạ của nam Tây Nguyên và cồng chiêng của các dân tộc thiểu số Bắc Tây Nguyên). Tất nhiên UNESCO đã xét và công nhận “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại nhưng theo chúng tôi nếu các nhà văn hóa thực hiện những công việc để hoàn tất hồ sơ nọ có những động thái kỹ lưỡng hơn về văn hóa cồng chiêng Churu Nam Tây Nguyên thì tin chắc rằng tính thuyết phục của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên sẽ cao hơn. Nói trắng ra theo chỗ chúng tôi biết (ít nhất là từ “bộ hồ sơ nhỏ” văn hóa cồng chiêng Mạ và Churu) các nhà làm văn hóa đã bỏ qua (hay không biết?) “tính bảo thủ ngoài biên giới” của văn hóa cồng chiêng Churu trong mối quan hệ văn hóa cồng chiêng Nam Tây Nguyên; đồng thời chưa làm rõ những giá trị của hiện tượng “đóng băng trên biên” trong mối quan hệ văn hóa giữa cộng đồng các dân tộc thiểu số thuộc hai ngữ hệ Mã Lai Đa Đảo (đại diện là Churu) và Môn Khơme (Mạ).

Ở cộng đồng người Churu cồng chiêng được chia thành 3 loại chủ yếu: sạr rngăm (chiêng sáu) sạr atâu (chiêng ba) và sạr dâu (chiêng hai). Trong các nhóm tộc người thuộc hai ngữ hệ Môn Khơme và Mã Lai Đa Đảo ở Nam Tây Nguyên các nhà làm văn hóa địa phương và trung ương đã chọn hai sắc dân Mạ (Môn Khơme) và Churu (Mã Lai Đa Đảo) để lập hồ sơ văn hóa cồng chiêng trình UNESCO là một cách chọn đúng. Nhưng khi cụ thể những giá trị cồng chiêng của nhóm dân Churu trong hồ sơ thì họ đã bỏ qua những giá trị căn bản nhất: tính bảo thủ ngoài biên giới và hiện tượng đóng băng trên biên. Trong việc lập hồ sơ cồng chiêng Churu các nhà làm văn hóa chỉ chủ yếu khẳng định giá trị của bộ chiêng ba – sạr atâu (chiêng dành cho người chết) chứ chưa lưu tâm đến bộ chiêng sáu (sạr rngăm). Trong khi đó theo chúng tôi bộ sạr rngăm mới chính là nét độc đáo nhất của cộng đồng người Churu. Bởi lẽ ở cộng đồng người Chăm (nguồn gốc của người Churu) bộ chiêng sáu chiếc hầu như không được lưu hành. Trong khi đó quá trình di cư về phía núi và sống cùng với cộng đồng người Cơho và người Mạ bản địa bộ phận “ly khai” Churu đã tiếp nhận vào cộng đồng mình một bộ chiêng hoàn toàn mới là bộ chiêng gồm 6 chiếc và đặt cho nó tên gọi mới là “sạr rngăm”. Với người Mạ và người Cơho bản địa bộ chiêng sáu chiếc có tên gọi “ching droòng” chính là linh hồn văn hóa cồng chiêng của dân tộc. Ở hai cộng đồng dân tộc bản địa Nam Tây Nguyên Mạ và Cơho này ching droòng (cùng với nhiều nhạc cụ khác) có nét độc đáo và rất đặc trưng là cao độ của chiếc chiêng không nằm trong hệ thống bình quân luật của âm nhạc phương tây. Trong khi đó quá trình cộng cư khi tiến về phía núi cộng đồng người Churu đã tiếp nhận vào xã hội mình bộ chiêng sáu chiếc nhưng hoàn toàn không tiếp nhận “nốt có cao độ không nằm trong hệ thống bình quân luật” của người Mạ và người Cơho. Và trong suốt quá trình “vay mượn” bộ chiêng sáu (nhưng tên gọi đã khác: sạr rngăm chứ không còn là ching droòng) bộ sạr rngăm của người Churu vẫn chỉ dùng để diễn tấu những bài bản gần gũi với giàn chiêng arạp – chiêng gốc của người Chăm tộc người gốc của người Churu. Tính bảo thủ ngoài biên giới chính là ở chỗ đó. Đồng thời bộ chiêng gồm sáu chiếc với hai tên gọi (ching droòng và sạr rngăm) của tộc người Mạ và tộc người Churu (“chiếm đất”) cũng chính là hiện tượng “đóng băng trên biên” trong quá trình cộng cư giữa các dân tộc này.

Ít nhất là một nét độc đáo về mối quan hệ văn hóa cồng chiêng của cộng đồng các dân tộc thiểu số Nam Tây Nguyên đã bị bỏ qua trong quá trình lập hồ sơ trình UNESCO như trên vừa phân tích kể ra cũng thật đáng tiếc. Tuy nhiên vẫn chưa muộn nếu như các nhà làm văn hóa nhìn ra vấn đề này!