Nam Tây Nguyên kể chuyện: Sử thi Tây Nguyên - viên ngọc quý

Với Tây Nguyên sau sự kiện UNESCO công nhận văn hóa cồng chiêng là văn hóa phi vật thể của nhân loại thì tiếp theo sẽ là gì diễn ra? Chúng ta thử đưa ra một đoán định: Sử thi! Vì cùng với văn hóa cồng chiêng sử thi chính là “viên ngọc” sáng giá để UNESCO hướng đến trong việc xét công nhận giá trị văn hóa phi vật thể nhân loại ở Việt Nam trong tương lai.

PGS-TS Ngô Đức Thịnh một nhà nghiên cứu có uy tín của Việt Nam người có nhiều công trình về văn hóa Tây Nguyên cho rằng: “Giới nghiên cứu đã nhiều lần nói tới Tây Nguyên như là một vùng văn hóa phong phú và độc đáo một trong bảy vùng văn hóa lớn của nước ta. Tuy nhiên nếu nhìn nhận từ góc độ các hiện tượng văn hóa tiêu biểu như âm nhạc cồng chiêng tín ngưỡng và nghi lễ nhà mồ sử thi… thì lại có thể nói tới một vùng sử thi Tây Nguyên vùng âm nhạc (hay văn hóa) cồng chiêng Tây Nguyên… Với những hiểu biết hiện nay có thể nói rằng không nơi nào ở nước ta như Tây Nguyên chúng ta lại có thể tìm thấy nhiều sử thi nhất là các sử thi đó đang “sống” trong đời sống văn hóa dân tộc…”.

Thế giới lần đầu tiên biết đến sử thi Tây Nguyên thông qua cuốn sách “Bài ca Đam San” của L. Sabatier xuất bản tại Pháp năm 1927. Không chỉ có Đam San trong năm 2001 (một trong những năm “nở rộ” sử thi) các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian còn tiếp tục phát hiện trong các sắc tộc Eâđê Mnông Bana Giarai… những tác phẩm sử thi khá độc đáo như Đam Di Chilơkok Khinh Dú Đăm Droăn Y Prao Mhiêng Đam Noi Xing Chion Hơ Diêu Diôông … Và gần đây hàng loạt sử thi Tây Nguyên đã được công bố thông qua một chương trình lớn của quốc gia về nghiên cứu – sưu tầm – biên dịch – xuất bản sử thi được tiến hành ở hầu khắp các vùng thuộc Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Để khẳng định những giá trị của sử thi Tây Nguyên xin được quay lại với tác phẩm “Bài ca Đam San” với lời giới thiệu của một học giả nổi tiếng người Pháp – GS G. Condominas. GS G. Condominas cho rằng: “Người ta không thể nói đến folklore tiền Đông Dương mà trong đầu không xuất hiện nhan đề tác phẩm sử thi Đam San. Bài thơ tuyệt đẹp đó tác phẩm nổi tiếng hàng đầu của văn học truyền miệng các bộ tộc sinh sống sâu trong nội địa Trung bộ Việt Nam cho đến nay vẫn là một kiệt tác không bàn cãi” (G. Condominas: Lời nói đầu khan Klei Kdam YI BEFEO). Còn theo GS Ngô Đức Thịnh thì: “Hơn thế nữa sử thi không chỉ là đặc trưng nét độc đáo duy nhất của vùng văn hóa Tây Nguyên mà vùng này còn thể hiện tính thống nhất của mình qua nhiều hiện tượng văn hóa tiêu biểu khác như âm nhạc cồng chiêng văn hóa nhà mồ các luật tục tập quán khác…”. Nói cách khác cùng với các loại hình văn hóa khác (đặc biệt là văn hóa cồng chiêng vừa được UNESCO công nhận) sử thi Tây Nguyên góp phần không nhỏ vào kho tàng văn hóa vô giá của Việt Nam và của cả nhân loại.

Khác với hầu hết các sử thi trên thế giới đã phát hiện được sử thi Tây Nguyên là sử thi “sống” nghĩa là nó đang tồn tại trong đời sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Mặc dầu đã bị mai một ít nhiều nhưng hiện nay bà con thiểu số Tây Nguyên đặc biệt là ở lớp người già vẫn còn thuộc lòng sử thi và hát – kể thâu đêm suốt sáng và người nghe vẫn nghe một cách say sưa đến “quên tiếng con gà rừng” báo canh. Cùng đó cách diễn xướng của sử thi Tây Nguyên cũng hết sức độc đáo đa dạng. Ngoài những đặc trưng về thể loại văn học dân gian từ trong cội nguồn văn hóa sử thi Tây Nguyên bao giờ cũng được xuất hiện dưới hình thức diễn xướng với hai biểu hiện rõ nhất là nó được hát – kể trong những không gian nhất định và với những làn điệu mang tính đặc trưng của nghệ thuật âm nhạc. GS-TS Tô Ngọc Thanh đã mô tả khung cảnh một buổi hát – kể sử thi của người thiểu số Tây Nguyên trong cuốn sách “Fôn- clo Bâhnar” như sau: “Hmon chỉ được hát – kể vào đêm không trăng. Người hát – kể nằm trên đầu hồi nhà phía Tây và chìm trong bóng tối. Chỉ có giọng hát – kể của ông ta vang lên trong đêm. Người nghe ngồi thành từng nhóm quanh những đống lửa nhỏ im như những pho tượng”. Nghe sử thi Tây Nguyên chúng ta thấy hiện ra trước mắt là bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng sông suối… Tây Nguyên; và đặc biệt là qua đó dễ dàng nhận biết được những khát vọng của chủ nhân vùng sơn cước. Sử thi Tây Nguyên có giá trị phản ánh đời sống lịch sử xã hội cùng những biến chuyển của nó; phản ánh quá trình hình thành và phát triển của các chế độ xã hội đặc biệt ở đây là xã hội mẫu hệ với các mối quan hệ khá đa dạng; phản ánh sự hình thành và định hình đời sống văn hóa các dân tộc các nghi lễ phong tục tập quán… của xã hội mình dân tộc mình thông qua cốt truyện và các nhân vật. Nói cách khác sử thi Tây Nguyên chính là “bộ bách khoa thư” là “cuốn từ điển sống” của các dân tộc Tây Nguyên. Trong không gian diễn xướng sử thi cả người hát – kể lẫn người nghe đều tin những gì diễn ra trong truyện là thật; nói cách khác người đến với sử thi trong một không gian diễn xướng nhất định nào đó là đến bằng nhu cầu hóa thân và trở thành người trong cuộc để được sống cùng với những gì diễn ra trong truyện.

Sử thi Tây Nguyên nhìn toàn cục vùng (Tây Nguyên) là vậy. Tuy nhiên qua cuộc điều tra theo chương trình quốc gia mới đây như trên vừa nhắc đến cho thấy sử thi vẫn đang còn một “vùng lõm” nằm ở phía Nam Tây Nguyên – Lâm Đồng. Vùng đất Nam Tây Nguyên – Lâm Đồng – xét dưới góc độ lịch sử thì đây là một tiểu vùng văn hóa được hình thành từ lâu đời trong xã hội của các cộng đồng thiểu số bản địa với đầy đủ các yếu tố cấu thành một nền văn hóa dân gian. Qua kết quả nghiên cứu vừa được công bố thì Lâm Đồng chính là “vùng lõm” sử thi – chưa (nếu không muốn nói là không) tìm ra văn hóa sử thi. Vậy sự thật như thế nào? Trong thực tế những năm gần đây rải rác trong một số công trình nghiên cứu nhỏ lẻ các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian ở Lâm Đồng bước đầu hé lộ: Trong cộng đồng các dân tộc thiểu số bản địa nhất là đối với hai tộc người Mạ và Cơho từ xa xưa đến giờ vẫn đang tồn tại một lối “hát – nói” “hát – kể” khá độc đáo mà các nhà foklore xếp nó vào thể loại văn học dân gian (gồm nhân vật cốt truyện tình tiết…) còn các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc học thì xếp nó vào thể loại “tiền âm nhạc” (nhịp điệu tiết tấu…) với tên gọi “yal yau”. Qua đó các nhà nghiên cứu dù dưới góc độ văn học hay âm nhạc đều cho rằng: Yal yau như tên gọi (ngẫm ngợi chuyện xưa) là những điển tích là những chuyện kể về thuở khai thiên lập địa về sự ra đời của loài người của tộc người về những vị thần linh những anh hùng những chuyện tình cảm đôi lứa… bằng lối “hát – kể” “hát – nói”. Đặc biệt các nhà nghiên cứu này còn cho biết cụ thể rằng có những bài yal yau được “hát” nhiều ngày đêm liền như K’Jai – Ka Lìn Sa pur mang Ya Mòng – Dòi K’Tằng đăm Prrah… Và một vấn đề nữa: không gian diễn xướng. Theo mô tả của các nhà nghiên cứu thì không gian này của yal yau Nam Tây Nguyên có nhiều nét tương đồng với không gian diễn xướng sử thi của các dân tộc Bắc Tây Nguyên như cách mô tả của GS. TS Tô Ngọc Thanh.

Sở dĩ phải nhắc đến lối “hát – nói” “hát – kể” của các tộc người bản địa Nam Tây Nguyên là nhằm “bổ khuyết” cho “mảng trống” trong kết quả của chương trình sử thi quốc gia vừa công bố; đồng thời khẳng định tính chất vùng phân bố của sử thi Tây Nguyên nếu như nó được các nhà nghiên cứu quan tâm chứng minh bằng những cứ liệu khoa học trong một tương lai gần. Và vấn đề đặt ra: Liệu sử thi Tây Nguyên có hội đủ các điều kiện để UNESCO công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể của nhân loại (sau cồng chiêng) hay không? Theo nhận định chủ quan của chúng tôi sau cồng chiêng sử thi Tây Nguyên – một viên ngọc quý khác của vùng đất này – sẽ là ứng viên sáng giá nhất!